Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngọc Minh/truyện ngắn/ tuyển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngọc Minh/truyện ngắn/ tuyển. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Lão mù

Cây cầu mới bắc ngang sông.
Người qua cầu mấy ai không nhìn vòm si lá đỏ bồng bềnh cùng màu tím của vạt hoa cứt lợn bên lợi nước đục ngầu. Trong gốc cội xù xì dưới vòm lá cây si ấy có một túp lều và một ông lão mù sống bằng nghề câu. 
Lão đã ngoài bẩy mươi. Hơn năm mươi năm trước lão đã quay lại đây sống bằng nghề chở đò ngang nhưng trước nữa, bến đò và gốc si còn ghi dấu một kỷ niệm đau buồn đè lên cuộc đời của lão.


***

Giêng hai, cây si biết làm trẻ lại mình bằng lớp lá mới thay. Từ mụn vẩy trên thân già buông xuống lợi nước những sợi rễ để bắt đầu một cuộc sinh sôi. Đầu rễ bấy bớt tươi hồng bám vào mặt đất, cứng cáp dần rồi lớn thành thân mộc thay cho những gốc già ruỗng mục. Cái vòm giữa các gốc si cứ rộng dần rộng cho ông lão dựng một túp lều, đêm đêm lão thức với tiếng nhị hồ nghẹn ngào, tha thiết.
Không biết có còn ai nhớ cái tên Kiệt của lão. Lão là đứa trẻ mồ côi được ông bà Hào Tâm đưa về nuôi dạy cắt cỏ chăn trâu cho đến khi bị bắt vào lính dõng. Cuộc đời lão đang xuôi như dòng nước dưới sông kia bỗng bị lật ngược như ngọn măng gặp bão kể từ buổi sáng đội lính dõng đuổi bắt người điệp báo Việt minh. Tên thiếu úy chỉ huy hô lính phóng hỏa khu nhà rồi lùng sục suốt đêm rồi trói ông bà và ba người con trai vào gốc cau, tra hỏi. Trong đội lính dõng ấy có Kiệt đứng khuất bên chuồng trâu nghe tiếng súng bắn từng người mà khẩu súng trong tay anh vẫn hoàn toàn im tiếng. Suốt mấy chục năm, đến bây giờ Kiệt đã là lão mù mà vẫn phải hình dung phút giây từng người gục xuống. 
Nhà ông Hào Tâm còn lại duy nhất cô con gái út tên là Tầm. Tiếng gào “chạy đi” của ông là sự đánh đổi tính mạng của người cha cho hy vọng sống sót của đứa con gái tật nguyền. Đêm ấy, Kiệt bỏ ngũ trốn đi tìm Tầm nhưng mới đến được bến đò thì gặp lính. Anh bị bắt lại rồi bị tống lên Hòa Bình cùng đêm đông hun hút gió miền tây xoáy vào nỗi ân hận.
Ngày Pháp dồn về Hải Phòng, Kiệt đã lần về làng. Biết đi đâu nếu không về cái nơi mình đã sinh ra nhưng quá khứ lính dõng đã đẩy Kiệt ra nơi bến đò quạnh vắng. Người chèo đò vốn là dân tản cư nay trở về quê cũ nhượng lại cho Kiệt đưa khách qua sông. Lặn ngụp dưới dòng nước đục ngầu tanh tưởi mắt Kiệt đã bị mù nhưng anh cứ tự cho là ông trời bắt phải mù để gánh cái tội đứng cùng đội ngũ những kẻ theo giặc hại ông bà Hào Tâm và những người con.
Cho đến bây giờ lão vẫn chưa rõ buổi sáng ấy Tầm đã chạy thoát bằng cách nào. Năm mươi năm trôi qua, nếu còn sống thì nay Tầm đã qua tuổi sáu mươi, lão triền miên những ân hận và bao giờ cũng mong được gặp lại để nói một câu: tay lão chưa hề bóp cò khẩu súng.
Ông bà Hào Tâm có ba người con trai, Kiệt xếp thứ tư làm anh cô Tầm. Họ đã cùng cha mẹ khai phá những cánh bãi dọc triền sông mà xây nên cơ ngơi nhà ngói cây mít với bầy trâu hàng chục con. Ông Hào Tâm mời thầy ở hẳn trong nhà để dạy các con học chữ. Kiệt cũng được học buổi tối công việc chăm đàn trâu mất rất nhiều thời gian, những bài thiếu anh vẫn học thêm ở Tầm. Mang cơm trưa cho Kiệt, Tầm vẫn đòi anh bện rễ si thành chiếc võng cho cô ngồi lên đưa thật bổng. Một bận, không may cái võng bị tuột ném Tầm bay xuống sông gẫy một bên chân. Thầy thuốc chữa cái chân ấy đã để lại di chứng đi cà nhắc. Thật tội nghiệp, cô gái có một bên chân cà nhắc đã phải làm cuộc trốn chạy hơn năm mươi năm không biết sống chết ở nơi nào.
Tiếng bước chân của Tầm in rất đậm trong trí nhớ của Kiệt. Bây giờ đã mù, nỗi nhớ ấy càng chất chồng lên ký ức. Nhưng chiều nay có điều gì rất lạ. Tiếng phanh ô tô, tiếng sập cửa xe, tiếng đàn bà hỏi ai đó về bến đò cây si và tiếng chân thậm thịch bước không đều đi xuống một đoạn dốc. Lão mù thảng thốt đợi chờ nhưng tiếng cửa xe đã ập lại rồi chạy đi. Lão ngẩn ngơ trong mái lều bất giác với cây nhị vuốt những ngón tay kéo một đoạn Bèo dạt mây trôi mà không biết mình đang làm gì. Có một cái gì đó đang chuyển động. Đôi mắt mù không cho lão quan sát mọi vật theo cách thông thường nên lòng lão càng thêm thấp thỏm. 
Ánh chiều đã treo trên vòm si lá đỏ, xe vẫn vùn vụt qua cầu. Mùi hăng chát của hoa cứt lợn trộn mùi xăng cháy quen thuộc bây giờ hình như đã thêm một mùi gì thoảng bay trong gió.  
Bọn trẻ chăn trâu chiều nào cũng nhảy ào qua những đám cỏ tranh đem cho lão những con nhái con giun làm mồi câu. Chúng thích nghe lão kéo nhị nhưng chiều nay lão đâu còn lòng dạ. Đoạn quan họ bèo dạt mây trôi chỉ là tiếng của nỗi lòng vô vọng quá đấy thôi. Mấy cô giáo trường tiểu học bên kia đường dận guốc lọc cọc theo lối dốc xuống mua cá. Chiều nay lão bắt cá trong cái khoang thuyền quen thuộc mà lại để tuột tay cho cá nhảy tọt xuống sông. Tâm thần càng bất định, lão ngồi thừ trong lều nghe tiếng gió cho đến khi thằng con ông Hàng dê núi ra hái lá si. Chiều nào nó cũng ra hái lá si cho khách ăn hàng rồi kể đủ thứ chuyện. Hôm nay nó khoe bố đã bán mấy gốc sung, gốc khế cho người ngoài phố về làm bon sai. Mà sao dạo này có nhiều người đến ăn thịt dê thế không biết. Những câu chuyện không đầu không cuối làm lão linh tính một cái gì đó đang chuyển động trên quê hương lão nhưng là gì thì lão không thể nghĩ ra. Trời chiều se lạnh, lão với cây nhị đãi người bạn vong niên một bài quan họ, cá đi ăn giấc đầu hôm đã um ủm bên lợi nước mà lão cứ thả hồn với tiếng nhị về phương nào xa lắm. Lưng lão gò lại, đầu gối nhô lên, cánh tay lão cung những vòng lượn cùng khúc dân ca dập dìu. Tiếng nhị loang trên mặt sông quyện cùng sương chiều trộn vào làn gió cứ hu lên qua cái bọng sáo ngang thân si già. Đãi người mà lòng lão hồ như rỉ máu, làn quan họ sao khắc khoải, hoài mong.
Thằng con ông Hàng dê núi kêu sao đã sang tháng ba mà si chưa ra lộc. Lão giật mình, tháng ba si phải ra lộc để tháng năm còn xòe cái vòm đỏ mà đón gió nồm nam chứ! Trong lòng lão vẫn sống động một tháng Năm của Tầm, hôm ấy cô bắt anh thay bộ quần áo mới rồi hai người ngồi trên cái võng bện bằng những chùm rễ si. Cô vòng tay ôm Kiệt bảo anh đừng lo đừng sợ nữa, chân em cũng đã liền lại rồi, bố không la mắng không đuổi anh đi đâu. Anh có biết bố bắt anh học chữ vì bố có ý định lớn lên em sẽ làm vợ anh không. Lời con trẻ hồn nhiên trong trắng đã khắc sâu vào trái tim Kiệt. Nhưng định mệnh đổi thay khi lão bị bắt vào lính dõng, lão day dứt vì sao mình không trốn trước đi để tránh cuộc săn lùng định mệnh. Tại sao không nổ súng vào tên thiếu úy mà cứ run rẩy nghe nó lần lượt bắn chết bà Hào Tâm, bắn chết ba người anh và bắn chết người cha thân yêu của Tầm.
Lão giật mình mà vẫn ngồi, mọi hôm giờ này lão đã sửa soạn bàn câu với cái dỏ mồi rồi chèo thuyền tìm nơi dăng thả nhưng hôm nay lão cứ thẫn thờ ngồi nghe tiếng cá mà bỏ bê việc kiếm ăn. Mấy chục năm nay, điều duy nhất lão làm được là lập bàn thờ cúng giỗ hàng năm. Nếu ai vào trong túp lều của lão sẽ thấy nơi trang trọng nhất là nơi kê cái bàn, bên trên lão đặt ba hàng bát hương, bát thờ ông bà Hào Tâm đặt cùng hàng với bát hương thờ cha mẹ lão. Bao nhiêu nước đã trôi qua cầu mà nỗi ân hận cứ đầy vun trên mỗi bát hương như nỗi lòng chất chồng của lão.
Ao ước được gặp Tầm để chỉ nói một câu "Tôi chưa hề bóp cò khẩu súng..." liệu có còn hy vọng?

***

Bà Tâm Huyền Việt kiều Pháp đã xin được giấy phép đầu tư xây dựng nhà máy chế biến hoa quả ngay tại quê mình. Hôm ấy, từ trong mái lều dưới gốc si lão mù đã nghe tiếng phanh xe, tiếng bước chân dò dẫm xuống con dốc vệ đường. Một giọng phụ nữ khàn hơi đớt nhưng lão vẫn nhận ra sự quen thân từ bước chân không đều. Phản xạ của lão là với cây nhị trên vách, bàn tay khô khẳng vuốt những mây trôi trăng đã ngả ngang đầu… Vẫn dây tơ ấy mã vĩ ấy mà hôm nay nhị hồ nghẹn ngào như than như khóc thương nhớ không nguôi…
Tiếng nhị kéo bà Tâm Huyền bước nhanh hơn. Những giọt nước mắt lăn dài trên đôi gò má đã có vết nhăn. Năm mươi năm mới lại được về với gốc si lá đỏ năm nào, với anh Kiệt của bà, anh Kiệt ngày xưa bố đã ngầm chọn làm con rể…
- Anh Kiệt!
Cái nhị rơi xuống, lão mù vấp phải bạnh si khi nhào về phía trước:
- Tầm đấy phải không em?
- Vâng, em đây, anh Kiệt ơi!
Bà Tâm Huyền chính là cô Tầm con gái út ông Hào Tâm, người đã từng thơ ngây hẹn ước với Kiệt dưới gốc si này. Họ nghẹn ngào, run rẩy. Tiếng khóc lặng lẽ của hai trái tim già nua qua bao cơ cực đã gọi về cái buổi sáng đau thương Kiệt đẩy Tầm qua bụi cúc tần rồi xua đàn trâu ra đánh lừa bọn dõng.
Lão mù dìu bà Tâm Huyền ngồi lên chiếc võng rễ si nay đã cắm sâu vào đất. Rồi như sợ không kịp, lão nói ngay cái điều chôn chặt trong lòng:
- Anh cố sống vì chưa nói được với em…
Lão nghẹn lại. Bà Tâm Huyền càng không cầm được nước mắt:
- Anh Kiệt đừng buồn chi chuyện cũ. Em đã gặp người cùng đi càn với anh trong đội lính dõng hôm đó…
Ông lão mù thở ra một hơi rất dài. Nỗi ân hận đè trĩu cuộc đời lão hôm nay đã vơi nhẹ được một chút. Hai người, một nhếch nhác mù lòa một nền nã trong bộ bà ba màu gụ, cùng ngồi cùng kể cho nhau... 
HN- 2006

Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Biển rừng phố thị


          Chú Tam cam đoan với tôi đến Long Biên sẽ mời được anh bộ đội đeo quân hàm xanh đang chạy theo chiếc xe khách dưới đường kia lên xe mình đi cùng. Thấy bác cả có vẻ chưa tin, chú giải thích:
- Có ba đặc điểm để nhận biết các anh bộ đội lên vùng sâu vùng xa. Thứ nhất, ba lô nặng chứng tỏ về phép mang nhiều quà lên cho những người chưa được về. Thứ hai, không phải khách quen tài xế mới bắt chạy theo như thế và thứ ba, bước chân nhấc rất cao vì thường phải đi trên núi đá!
Bác cả nghe vậy biết vậy, chẳng nói gì.
Ba anh em tôi: bác cả bộ đội giải phóng Điện Biên, tôi bộ đội giải phóng miền Nam còn chú Tam sinh sau năm 1975 đang làm nghề kinh doanh bất động sản. Đợt này chú nghỉ mấy ngày lái xe đưa bác đi thăm chiến trường xưa. Mấy năm nay chú cứ áy náy anh mình mang danh chiến sĩ Điện Biên mà chưa biết Nà Ngần, Phai Khắt ở đâu nên giục tôi khẩn trương tổ chức đi một chuyến.
Đến vòng xuyến Long Biên, tôi còn chưa nhìn ra ai với ai thì chú Tam đã dừng xe, mở cửa:
- Đồng chí trung úy ơi, có đi Lạng Sơn lên xe đi cùng cho vui!
Anh bộ đội biên phòng mừng quá:
- Ôi, anh giúp cho thì còn gì bằng. Em đang cần...
Anh nói rằng đêm nay phải mua vé Lạng Sơn để sớm mai đi chuyến bốn giờ lên Cao Bằng vì hết đường ô tô còn nửa ngày cuốc bộ mới về đến đơn vị. Nhìn đôi mắt thiếu ngủ và chất giọng vùng biển nằng nặng, anh cả tôi đã cảm tình:
- Lên đi đồng chí. Lên chúng ta đi với nhau cho vui.
Tôi nhờ anh ngồi ghế trên tán chuyện cho chú Tam khỏi buồn ngủ nhưng vừa nhìn thấy mặt mình trong gương chiếu hậu, anh trung úy biên phòng đã cười thẹn:
- Ba đêm vừa rồi cháu không được ngủ trọn một đêm nào.
- Ba năm du kích năm kề, không bằng chủ lực chỉ về một đêm… Trung úy chắc lâu rồi mới về thăm vợ?
Anh trung úy biên phòng càng thẹn hơn:
- Em chưa…
Chú Tam lại cà kê chắc là về đi dạm vợ rồi đề nghị nếu không bí mật thì kể cho anh em vui quãng đường. Thanh- anh trung úy biên phòng ấy tên là Thanh- quay lại nhìn chúng tôi, dừng cái nhìn nơi bác cả. Được bác cả khuyến khích, Thanh mới kể câu chuyện của mình. 
Chỉ huy cho anh “về tranh thủ” vì có điện mẹ ốm nặng. Trước đó mấy tháng, bố anh mua căn nhà ở thị xã, thư lên bảo anh về để đứng lễ nhập trạch. Cứ như lời của bố trong thư, anh là con trai duy nhất, là người “kế danh tín chủ” không thể không có mặt trong lễ cúng an thần linh thổ địa nơi đất mới.
- Đúng rồi. Bây giờ có điều kiện nên thực hiện những việc kỹ càng như thế!- Bác Cả đồng tình với bố của Thanh.
Nhưng nhận thư của bố hơn ba tháng mà anh chưa thể về vì bản vùng cao vừa dời xuống thung lũng cấy lúa nước. Dân quen du canh du cư đốt phát chọc trỉa nay làm theo quy trình nhất thì nhì thục, bộ đội không thể bỏ dân mà về được.
- Em đã hướng dẫn rất tỉ mỉ nhưng tất tật bà con đều bắt phải làm mẫu. Cày cấy, làm cỏ bón phân, cứ là cầm tay chỉ việc. Vụ này lúa đã kém hạt mà bông vừa mới ửng đuôi, châu chấu đã về búng càng tanh tách nên phải tổ chức chong đèn đi vợt. Lại đến lúc gặt về gặp mưa, hạt thóc chỉ chực mọc mầm, thế là lại phải cùng bà con làm lò sấy. Chỉ khi có người lên thay với bức điện mẹ ốm nặng, bà con mới “Mẹ ốm thì bộ đội phải về thôi” rồi cả bản đưa anh ngược lên nơi có cây gỗ vắt ngang vượt qua dòng suối cuồn cuộn.
- Đi đường phải mất mấy ngày ấy chứ! Chú Tam chia sẻ.
- Mất hai ngày thôi anh ạ. Một ngày đường rừng, một ngày đường nhựa. Về đến đồn anh em chở ngay ra bến vừa kịp chuyến xe cuối cùng. 
Quê cũ của Thanh là một vùng biển đảo quanh năm gió sóng, ra khơi bằng thuyền, vào đất liền bằng mủng. Ngày còn học ở Học viện Biên phòng, mỗi lần anh về mẹ vẫn lội ra tận lợi cát, tay túm cạp mủng tay làm dấu thánh miệng lầm thầm Giê su ma lạy Chúa tôi. Đầu năm nay bố anh đã mua ngôi nhà ở thị xã, ngôi nhà ba tầng một tum giữa vườn cây đẫm bụi. Thanh thả ba lô đứng bên cánh cổng, không biết có phải nhà này không mà cửa ngõ im ỉm? Có tiếng chó rên ư ử và tiếng méo xẹo của con vẹt chào khách ở ngôi nhà bên cạnh. Anh ghé lỗ hoa sắt, nhìn vào. Con chó vàng gâu một tiếng rồi nhẩy chồm lên kéo theo sợi dây xích đánh xoảng. Con vẹt cũng tíu tít nhảy qua nhảy lại mấy thanh tre rồi nhào lộn trên những cái vòng treo. Đó là con Vàng và con vẹt Lì, chúng đã nhận ra người nhà. Còn chưa kịp mừng thì tiếng xe máy xịch đỗ sau lưng với giọng con gái tinh nghịch:
- Anh bộ đội nhòm ngó gì nhà em thế?
Thanh còn chưa biết nói sao thì cô gái đã hỏi tiếp:
- Anh Thanh phải không?
Con chó và con vẹt lại lồng lên khi nghe thổ âm vùng biển:
- Vâng, tôi là Thanh.
Cô gái như reo:
- Em đoán đúng mà! Mẹ bảo em chờ anh…
Nói chưa hết câu cô đột nhiên trở nên lúng túng. Lần đầu tiên gặp con trai của bà hàng xóm, trong lòng cô nhen lên những cảm xúc rất lạ. Cao lớn, khuôn mặt vuông, nước da ngăm mặn mòi gió nắng còn đẹp trai hơn những gì cô mường tượng qua lời kể của bà Thản. Cử chỉ của cô đâm ra mất tự nhiên. Đầu tóc không biết có ổn lại đang mặc bộ quần áo làm việc ở cửa hàng ăn, má cô chợt đỏ bừng. Mời Thanh vào nhà, cô bật quạt rồi bảo anh cứ ngồi cho mát rồi quày quả dắt xe ra cổng.
Cô Liên- cô gái hàng xóm đó tên là Liên- đã cho Thanh biết bố mẹ anh về quê. Bố về quê nội xin sớ nhập trạch, đi được một ngày thì mẹ anh dắt chó xách lồng chim sang nhà Liên gửi chìa khoá về quê ngoại. Nghe những lời của Liên, anh lại thêm lo. Từ lúc nhận bức điện trên bản vùng cao, anh chỉ lo bệnh tim của mẹ trở chứng nhưng đến lúc này anh thêm nỗi lo mới. Mẹ ốm thế nào mà phải về ngoại? Mà sao bố không đưa mẹ đi lại mỗi người một hướng thế này? Rồi cái Thành nữa, sao không xin nghỉ vài hôm mà đi cùng mẹ như lời anh dặn…
Liên từ cửa hàng mang về sắp lên bàn các món ăn:
- Anh Thanh phải ăn hết các món em làm riêng cho anh đấy nhé!
Lúc xin lại chìa khóa, Liên để tay trong tay anh hơi lâu rổi nói một câu đầy ngụ ý:
- Anh Thanh phải lấy vợ đi thôi, bà và cô Thành mong lắm đấy!
- Ai lấy bộ đội quanh năm xa tít ngoài biên cương hở cô!
- Anh cứ nói thế!
Liên có cửa hàng ăn ngoài ngả tư, giờ này khách rất đông. Cô không đành khi để Thanh một mình xách lồng chim và dắt chó về ngôi nhà vắng nhưng ngoài cửa hàng đang có nhiều khách quen đến ăn tối, cô không thể ở lại.
- Thế là ngon rồi. Thanh mà kết với Liên thành liên thanh nổ giòn như AK, nhỉ. - Chú Tam lại tếu.
- Đã có gì đâu anh. Mà em đã nói rồi, lấy bộ đội biên phòng là chuốc cái khổ vào mình!
Thanh kể tiếp:
- Liên đi rồi, ngôi nhà chỉ còn mình em với con Vàng và con Lỳ. Ngoài đường, xe tải liên tiếp rồ ga phủ thêm bụi lên những tàng cây. Em mở dây xích cho con Vàng. Nó tót ra gốc cây kếch một chân lên tè rồi tiện thể sủa trêu con vẹt một tiếng. Bố em vớt được nó bên bờ biển từ ngày em chưa đi Học viện Biên phòng, nay lên biên giới đã hai năm mà nó vẫn chưa quên cái nết gác mõm lên bàn chân em. Thấy em sẻ thức ăn vào cái tô, con Vàng nhẩy cẫng rồi nằm úp bụng, bò lại. Con Lỳ cũng vậy, thấy bạn gàu gàu nhai xương nó cứ nhào tít chào khách cho đến khi được muỗng hạt kê mới thôi.
Trong lòng anh đang nặng nỗi lo về mẹ. Còn bố ư? Không hiểu sao mỗi khi nhớ về bố, anh luôn nghĩ về một người thợ súng có tinh thần rắn như thép đã đi qua chiến tranh giải phóng là mẫu hình để thế hệ các anh noi theo. Lần trước, khi nhà còn ngoài đảo, anh về bố chỉ hỏi về được mấy ngày, công việc trên biên giới dạo này thế nào, sau đó là ngồi nhìn hai mẹ con tíu tít. Mẹ úp mặt vào lưng áo anh hít mùi mồ hôi rồi khơi lò cho nước nóng thêm để anh tắm. Con vừa mới về mà mẹ đã sụt sịt lo sắp đến ngày con lại phải đi!
Ánh điện đầu hôm soi qua lớp bụi làm không khí chung quanh vàng úa. Con Vàng thỉnh thoảng chạy ra hiên chõ mõm lên gâu một tiếng trêu con Lỳ. Vết chân của nó chi chít trên nền gạch bụi bậm. Anh cởi quân phục vắt lên thành ghế, xách xô xách chổi ra lau từ tầng tum xuống đến sảnh rồi lại lau từ sảnh ngược lên. Ở tầng ba có một phòng để bàn thờ, nhưng kệ tam sơn và bát hương cái nào cũng còn quấn trong ni lông. Xuống tầng hai, anh dừng khá lâu trước tượng Giê su chịu nạn và quyển kinh Phúc âm đặt trên cái bàn nhỏ. Đây là phòng cầu kinh của mẹ. Ngày chưa đi học viện, anh vẫn thường cùng mẹ quỳ trước tượng Chúa nơi vùng biển đảo ầm ì. Lúc này, anh bất giác thốt lên lạy Cha, Con và Thánh thần…
Ở gian bếp có bàn thờ thổ công, lọ hoa đĩa quả đã héo, mấy chén nước gần khô đóng những vòng bụi đỏ. Anh vặn vòi xả nước lau rửa úp lên mặt đá sa kim rồi tìm đồ nghề của bố vít lại bản lề triệt bụi lọt vào khe cửa.
Bao nhiêu việc đã làm xong mà trời vẫn chưa sáng! Thanh dạng chân giang tay trên nền gạch hoa nhìn cánh quạt quay đều đều. Phải đi tìm bố thôi. Anh sợ bố hay la cà sẽ làm nhỡ phép của anh. Sáng ra sẽ về ngoại tìm mẹ rồi hai mẹ con cùng về nội. Mà nếu không kịp làm lễ vào nhà mới anh cũng phải đi. Phải lên Lạng Sơn mua vé trước để bốn giờ sáng hôm sau đi chuyến xe đầu tiên mới kịp về đồn.

                                                     *
                                                  *    *

Từ ngày Thành lấy chồng về phố và Thanh lên công tác trên biên giới, nhà ông Thản chỉ còn hai vợ chồng già với bốn mùa sóng gió. Thứ bảy tuần nào bà cũng một mình một mủng đi nhà thờ trong Đảo Lớn. Ông đã thửa cho bà một góc đọc kinh nhưng bà không thể vắng buổi lễ Sam Bát và những lời giảng của Cha vào tối thứ bảy. Đã có lần gió đánh dạt bà sang tận bờ bên kia nhưng đến thứ bẩy tuần sau, bà lại chèo mủng đi.
Vùng biển hối hả với những dự án du lịch. Mấy quả đồi trồng phi lao được đền bù một số tiền đủ cho hai ông bà sống hết đời. Vậy mà lại sinh lắm chuyện. Ông muốn về quê nội cho gần họ tộc, ngoài đất làm nhà ở còn tậu đất xây khu lăng mộ rước các cụ năm đời về xum vầy bên nhau. Bà lại đòi về quê ngoại cho gần nhà thờ, gần Cha gần các bạn cùng dàn đồng ca từ ngày còn là thiếu nữ. Giận dỗi cứ triền miên, việc nào cũng ý kiến trái ngược nhau nhưng việc dành cho vợ chồng Thành một khoản mua ngôi nhà trên thị xã thì hai ông bà rất nhất trí. Ông bơi mủng vào Đảo Lớn đánh điện cho vợ chồng Thành. Vừa bế con qua bãi cát trước nhà, Thành đã bốp chốp:
- Mẹ chỉ loay hoay với những đức tin huyền bí của mẹ. Việc lớn thế này mẹ phải nghe theo bố chứ! Mà bố thì suốt ngày chỉ lo mồ với mả, sao không lo cho hai cái thân già…
Bà Thản lẳng lặng làm dấu thánh còn ông Thản chỉ e hèm. Đến lúc ngồi nhậu, ông chỉ chăm chú cắn càng cua bóc thịt cho cháu mà Thành lo. Chồng Thành vào bếp lấy thêm bia, Thành bám theo thì thào anh cứu em với. Về xin tiền bố để mua nhà trên phố cơ mà... cô lúng túng nói điều mình lo lắng nhưng chồng cô cứ mặc, kể cả lúc ngồi lại vào chiếu anh vẫn mải mê với những con cua bể đang ngồn ngộn trên mâm. Học cách của bố vợ, Kiên kê hàm răng cắn cái càng đánh đốp:
- Bố chọn cua sành thật đấy, con nào cũng chắc nịch. Hôm nào bố dạy con cách hấp làm sao gạch vừa tới mà thịt lại trắng vừa thơm. Con này ngon đây bố này.
Rồi Kiên- chồng Thành tên là Kiên- quay sang nịnh mẹ vợ:
- Ôi chao là cái món nước chấm! Bố chọn cua cũng tài mẹ pha nước chấm cũng tuyệt. Không có nước chấm của mẹ thì cua hấp ngon đến mấy cũng không thể hơn cả tuyệt vời thế này. Ngọt ngọt chua chua lại thơm ngào ngạt, một cái càng với mấy lát xoài đánh đổ lon bia. Sướng thật!
Ông Thản chỉ phẩy tay, giục uống đi, uống đi. Hai bố con ngồi đến lon thứ mười thì mọi chuyện đã khác.
- Để mẹ mày đi mua mấy xâu đen lên cho chúng nó.
Chúng nó đây là lũ bạn của vợ chồng Thành đã nhiều lần kéo về nhậu với ông. Ông thích cái tính chưa thấy người đã thấy vòi ăn, ông bảo gì chứ cua bể thì cứ về đây, mệt nghỉ. Ông chỉ có một yêu cầu là đứa nào rời mâm cũng phải thật no thật say, không no không say chỉ phí công ông dựng nhắm.
Sau lần về ngoại ấy Kiên có ý định sẽ vận động bố mẹ lên thành phố cho  bác Thanh đi về thuận tiện nhưng chưa dám nói với bố. Anh bàn với vợ rồi gọi các bạn tới. Bữa đó, mấy anh em sôi nổi lắm. Ngôi nhà cho các cụ phải là nơi có nhiều cây cối, nếu được hồ nước phía trước thì mỹ mãn. Bàn đi bàn lại, chỉ có khu đang xây dựng ngoại thị là hợp nhưng búa đóng cọc và xe tải ồn ào bụi bậm không biết khi nào các bố xây dựng mới xong mà các cụ lại đang ở nơi không khí biển trong lành. Cuối cùng, cả bọn đánh liều cứ mua chờ khi nào khu đô thị xây hoàn chỉnh tất cả sẽ ngon lành!
Kiên cùng một anh bạn đi đảo Tuần. Cả hai hồi hộp nhưng khuya hôm ấy Kiên đã điện về báo thành công chín mươi phần trăm. Gì chứ cứ ngồi vào mâm, nhậu đến lon thứ ba thứ tư thì bắt đầu mở màn rồi đến lon thứ chín thứ mười, con voi cũng lọt lỗ kim. Hôm ấy, hai ông về thay nhau kể lại chuyến thăm ông bà ngoại. Trả lời câu hỏi đầu tiên ông Thản hỏi về cháu ngoại, Kiên ngập ngừng thưa hôn ở đây vê con bé dị ứng xe đò hay sao mà cặp nhiệt sốt đến… ba bảy độ một! Ông Thản có hơi men nên chỉ biết sốt là sốt. Cháu ông về thăm ông bà phải đi xe đi đò mà ốm, ông xót lắm nhưng khi anh con rể nói thế mới biết thương bác Thanh xong xóc trên đường bao nhiêu năm nay thì ông lăng đi. Được kỳ phép mười mấy ngày phải rải ra nào núi rừng nào phố thị, rồi qua sông qua biển còn ở nhà được mấy ngày. Đang lúc ông xót con xót cháu, Kiên thẻ thọt:
- Chi bằng bố mẹ lên phố với chúng con, bác Thanh về cũng được ngắn thêm quãng đường mà cháu sang ông bà cũng gần.
Các bạn Kiên vẫn tích cực tìm nhà. Anh em tìm được ngôi ba tầng một tum, hướng Nam ghé Tây hợp cả tuổi ông Thản và tuổi Thanh, có sân có vườn cây, chỉ thiếu hồ nước phía trước nhưng bù lại là trục đường chính, mở cửa hàng bán lẻ hoặc đại lý kinh doanh, kiểu gì cũng thuận lợi. Kiên gọi điện xuống tán ngôi nhà như thế như thế, ở thành phố người ta gọi là biệt thự. Chỉ có mỗi một nhược điểm nho nhỏ là nằm bên quốc lộ đang lúc xây dựng hơi ồn hơi bụi một tí… Ông Thản không biết có hội ý với vợ hay không nhưng sau đó một ngày đã gọi lên. Và bây giờ hai vợ chồng ông đã chính thức thành công dân của cái thị xã đang bang bách vươn lên trong xây dựng.
                                                              

                                                              *
                                                          *      *

Chú Tam khen Thanh có cả số đào hoa và số thanh nhàn nhưng anh Cả bảo mấy ngày vừa rồi cháu chả thanh nhàn tí nào. Chắc anh tôi nói về hậu vận chứ lúc này Thanh đang tất tưởi lên biên giới sau khi đã tất tưởi thu xếp việc gia đình. Khi xe tiếp tục chạy, Tam lại gợi bằng một câu hỏi để được nghe tiếp câu chuyện nhà Thanh.
- Mẹ em giận bố em vì ông đã gắt: giỗ mẹ không lo làm xôi làm gà mà cúng lại lo mấy lớp kinh nhà thờ bắt các cụ nghe suông!
Không phải là bố không tôn trọng mẹ, không tôn trọng phong tục tập quán bên giáo nhưng quả thật ông không tán thành cái cách bỏ giỗ tưởng niệm ngày sinh nhật. Mẹ chết mấy chục năm mà chỉ đọc kinh ngày sinh nhật rồi mấy chị em bầy ra ăn uống với nhau? Còn bà, bà cãi con chiên đã được về bên Chúa còn bắt quay lại chốn cát bụi làm gì! Ông làm giỗ là tưởng nhớ quá khứ còn bà kỷ niệm sinh nhật là hướng tới tương lai. Bà có tín ngưỡng của bà, sống với nhau mấy mươi năm mà ông chẳng chịu hiểu bà. Không biết ngày xưa ông đến nhà thờ đọc mấy lớp kinh để làm gì?
- Thế à. Bố cậu ngày xưa cũng phải đến nhà thờ đọc kinh à?
Bác Cả hỏi Thanh không biết với ý gì.
- Vâng, trước khi cưới mẹ cháu, bố cháu đã học thuộc lòng mấy lớp kinh mẹ cháu viết cho rồi đến nhà thờ đọc, ông ạ!
Bác Cả chỉ ờ ờ rồi giục Thanh kể tiếp.
Hai vợ chồng già lời qua tiếng lại rồi ông về quê nội để lên chùa xin lá sớ làm lễ nhập trạch chuẩn bị cho ngày giỗ ông cụ thân sinh cũng sắp đến rồi.
Từ ngày lấy ông Thản, việc giỗ tết nhất nhất bà làm theo chỉ đạo của chồng, mua gà phải chọn gà trống tơ, xôi đồ xong phải đơm thành oản, mâm cỗ cúng nhất thiết phải đủ xôi gà trầu quả với lọ hoa tươi. Bà coi đấy là bổn phận nhưng lần này bà ấm ức, nỗi ấm ức vì một lý do rất đặc biệt xin kể ở phần sau!
Ông đi rồi, nhà cửa lạnh lẽo làm bà nhớ con trên biên giới đến xoắn gan xoắn ruột. Cả nhà chỉ một mình nó vất vả! Thế là bà ra bưu điện đánh một bức mẹ ốm nặng, về ngay. Về nhà mới thấy mình sai nên bà lại ra xin lại nhưng chị nhân viên bảo đã phát đi rồi. Rõ là mua dây buộc mình, giận chồng giận mình, bà nhưng chẳng biết làm sao đành gửi nhà cho Liên về quê gặp Cha xưng tội.  
Quê bà là vùng đạo toàn tòng. Làng nào cũng có nhà thờ, có Cha, các thế hệ giáo dân chung tay góp sức xây dựng nên một nền nếp hoạt động văn hóa rất chỉn chu. Mấy năm nay kinh tế phát triển, con chiên trong xứ và cả con cháu ở nước ngoài thành tâm công đức cho ngôi nhà của Chúa ngày mỗi thêm khang trang. Bà rưng rưng khi bước trên con đường lát gạch trong tiếng chuông chiều gọi nguyện. Gặp Cha, bà xưng tội đã làm con trai nơi biên cương phải bận lòng và xin mấy lớp Kinh cho người mẹ quá cố của bà là cụ Maria Đào Thị Thơm. Cha nhẹ nhàng khuyên ráng chờ tối thứ bảy này, nhân lễ Sam Bát có đông đủ bà con sẽ cầu nguyện cho linh hồn Maria được mãi mãi ở bên Chúa!
Hôm đi người đã khó ở. Ngồi xe máy lạnh hơn trăm cây số, về đến nhà em gái thì bà Thản bị cảm. Đã uống thuốc cảm và xông nước lá nhưng xem chừng những hương vị trần gian ấy không hiệu quả bằng nửa tiếng đồng hồ bên Cha. Rời xóm đạo đi công nhân quốc phòng rồi lấy chồng theo chồng về vùng biển đảo, mấy chục năm rồi hôm nay bà mới có dịp quẩn quanh dưới chân Chúa, nơi bà được chăn dắt tự thuở ấu thơ. Đặt bàn tay lên mái tóc bạc của bà, Cha du dương “Chúa luôn ở trong lòng con nếu lòng con sáng trong và không rời xa Chúa”. Những ông bà cùng dàn đồng ca ngày ấy tay bắt mặt mừng, họ nhắc về những phút giây cùng quỳ trước tượng Giê su chịu nạn, cùng cất tiếng amen âm vang dưới những mái vòm.
Thanh ngủ lại nhà dì với mẹ một đêm, hôm sau ra đi sớm. Bà Thản sụt sịt nhìn theo bóng con mà thầm gọi ông Thản ơi ông có biết con trai ông vất vả đến thế này không? Ngay lúc ấy bà đã nghĩ phải lỗi hẹn với buổi lễ tối thứ bảy này mất thôi.
Xe về thẳng quê nội bỏ chuyến nên Thanh phải vòng về thị xã. Anh đang ngồi nói chuyện với em gái thì con Vàng hực lên rồi chạy ra bắc chân cào cánh cổng. Là giống sinh ra giữa sóng và gió nên Vàng rất tinh tai, thính mũi, nó đã nhận ra ông Thản vác cái bao leo qua dải phân cách ở cuối đoạn đường. Tiếng gâu của con Vàng làm con Lỳ giật mình. Đang mắt nhắm mắt mở nhưng khi nhận ra ông Thản, Lỳ ta cứ tít mù nhào lộn chào khách.
Mở túi bò khô, ông lấy cho con Vàng một miếng rồi lại mở bọc ni lông lấy bông ý dỹ cho con Lỳ. Xong hai việc ấy ông mới hỏi Thanh:
- Anh về từ hôm nào?
- Con về hôm kia! Bố đi có được việc không bố?
- Được, được…
Ông Thản chợt nhớ ra điều gì:
- Mẹ chúng mày đâu?
Nghe Thanh trả lời mẹ đang dưới ngoại, ông à một tiếng như chẳng có gì quan trọng. Giọng ông vẫn không đổi:
- Bà ấy về xin kinh cứu rỗi đấy mà. Giỗ chạp phải có hương hoa trầu quả cỗ xôi con gà dâng lên tổ tiên, đàng này chỉ lo mấy lớp kinh suông. Tôi đã xạc cho mà vẫn không chịu sửa!
Thành ấm ức từ khi biết mẹ về ngoại bị cảm nên ngứa mồm quá:
- Bố thì lúc nào cũng xạc… Nói chưa hết câu Thành đã bật khóc: sao mà mẹ khổ thế mẹ ơi! Hơi một tý là bị mắng…
- Ơ, cái con này!
Ông Thản ngạc nhiên thốt ra khe khẽ mà tiếng khóc của Thành đã tắt ngấm. Cô vừa quệt mắt vừa thu xếp các thứ bố mới mang về.
- Không phải việc của cô!
Ông Thản vội ngăn vì đấy là bọc tro rơm nếp và những gói chân hương ông đem từ quê lên rất kỵ nữ nhi ngoại tộc chạm vào. Thấy con gái tủi thân, ông bảo:
- Thôi, con đi chợ đi.
Ông sai Thành đi chợ, dặn dò mua gà phải chọn gà trống cựa mới hơi nhú. Gà mới nhú cựa là gà chưa đạp mái, làm cỗ cúng cái gì cũng phải thanh sạch…
Ông Thản cởi áo dài mũ xếp quắc lên cây mắc, hai tay xoa vào nhau ra chiều thỏa mãn lắm. Lễ nhập trạch ông đã làm xong, có con trai cùng đứng lễ làm ông rất vừa ý. Ông đang định khen con gái có món gì mà thơm thế thì Thành đã chạy từ trong bếp ra:
- Bố ơi! Có lá thư của mẹ đây này. Ôi trời, mẹ để trong tủ bếp mà mấy hôm nay con không để ý…
Ông Thản chỉ nhìn qua. Thư của mẹ mày chứ cái gì mà phải ầm ĩ cả lên, ông bảo thế rồi tiếp tục gióng mắt qua ô cửa về cuối con đường. Hai anh em Thanh ngồi bậc cầu thang rì rầm, có dòng chữ ngày giỗ ông nội trùng với ngày sinh nhật của bà ngoại làm Thành không hiểu lại phải hỏi bố. Ông Thản xoay người lại:  
- Giỗ ông nội tính theo ngày âm lịch còn ngày sinh nhật của bà ngoại tính theo dương lịch. Năm nay hai ngày đó trùng nhau!
Thanh giơ hai tay a một tiếng vang cả ngôi nhà. Cùng là sự hiếu đễ với bậc sinh thành nhưng do lịch âm lịch dương trùng ngày lại do cách tưởng niệm khác nhau nên bố với mẹ đã xảy ra những bất đồng. Anh nói với bố:
- Từ lúc nghe cô hàng xóm nói bố về nội mẹ về ngoại, người đi trước người đi sau, con lo quá. Nỗi lo ấy còn lớn hơn cả nỗi lo về bệnh tim của mẹ đấy. Nếu bố mẹ không nương tựa vào nhau thì con không thể yên tâm công tác được. Thú thật, đã có lúc con nghĩ đời mình sẽ là cuộc đeo đá ngàn cân, bố ạ!
Từ lúc gặp con, linh tính người cha đã mách bảo ông có cái gì đó không ổn. Con ông đang có cái gì trong lòng nhưng đôi mắt trai trẻ lại không biết giấu giếm. Định xong việc ông sẽ hỏi để liệu cách giúp con chứ ông đâu biết rằng chính vợ chồng mình đã làm con lo lắng.
Thanh dừng lại, anh Cả bình luận:
- Đôi khi bất hòa lại làm tiền đề cho một sự thống nhất!
                                                             
 
                                                               *
                                                           *      *

Bà Thản cứ luôn miệng nhắc Thanh ăn nhiều vào con. Ở trên ấy kham khổ lắm phải không? Cái Thành hâm lại bát canh miến cho anh mày, chắt riêng nước ra mà đun…
          Cả nhà ngạc nhiên vì cách cư xử khác hẳn ngày trước của bà. Niềm vui vì được gần con trai và niềm vui của cuộc gặp Cha đang giao thoa và cộng hưởng trong lòng bà. Bà kể lại, khi Thanh đi rồi Cha đã đến nhà dì. Ông nghe nói có anh bộ đội biên phòng về nhà dì nên lại thăm. Ông khuyên bà nên về ngay, cứ yên tâm mà về, đến thứ bảy vẫn có buổi cầu kinh như đã hẹn. Cha đưa cho bà mấy lớp kinh về đọc ở nhà và giảng giải cho bà nhiều lắm. Bà hướng về phía ông:
          - Tôi sáng ra nhiều rồi, ông ạ. Lâu nay có gì làm ông phiền lòng cũng chỉ vì tôi chưa hiểu, ông bỏ qua cho tôi nhé.
          Mấy đứa con hết nhìn mẹ lại nhìn bố. Bữa cơm chiều thêm thật nhiều hương vị. Ông Thản cho rằng lời khấn quốc thái dân an, gia đình hạnh phúc trong lễ nhập trạch đã được thần linh chấp nhận nhưng bà Thản vẫn nhẹ nhàng:
          - Mẹ với bố cứ giữ cái cách làm giỗ và làm sinh nhật từ ngày xưa làm anh Thanh đợt này vất vả. Ở dưới ngoại bây giờ nhà nào cũng sắp ban thờ thắp hương ngày giỗ, ngày tết. Cha bảo thờ cúng tổ tiên là phong tục chung của người Việt nam chứ có phải của riêng ai.
Lúc nãy con nó dẫn tôi lên thắp hương cho cụ rồi đấy ông ạ- bà quay sang nói với ông. Mai ông cứ để mẹ con chúng tôi làm cỗ cúng ông nội xong rồi đọc kinh cho bà ngoại nhé. Bà vòng tay ôm Thanh: lâu lắm rồi con không cầu nguyện chung với mẹ, nhỉ?
Kiên nói với Thanh:
- Em đã chuẩn bị gỗ, tối nay thửa cho mẹ cái kệ trong phòng nguyện. Nếu anh mệt thì cứ nghỉ, em gọi mấy đứa bạn đến làm bảo đảm đến đêm là xong…
Ông Thản tiếp:
- Đúng rồi, gọi chúng nó đến. Xem có đứa con gái nào biết nấu nướng bảo chúng nó đến đỡ mẹ mày với cái Thành một tay. Mai nhà ta làm giỗ ông nội và sinh nhật bà ngoại lại có Thanh về, toàn là việc lớn. Bà nhớ bảo cái Liên sang nhé…





Câu chuyện của Thanh đã làm ngắn lại con đường lắm đèo nhiều dốc. Thanh nghe điện thoại rồi vui vẻ báo tin đến ngã ba sẽ có xe máy của đơn vị đón. Chỉ huy đã báo cho một người đang trên đường công tác trở về dừng lại chờ anh. Chú Tam với tay vỗ vỗ lên đầu gối Thanh:
- Mừng cho em. Gặp nhau không hẹn mà thật có duyên, em đã để lại trong anh không chỉ là ấn tượng về người lính biên phòng mà còn là bài học lớn của hậu phương đấy, Thanh ạ!
Khi Thanh đã được đồng đội đón ở ngã ba rồi, bác Cả ngồi thẫn thờ. Mãi một lúc lâu bác mới lên tiếng:
- Thôi. Anh em mình cũng quay về thôi!
Tôi không hiểu. Chuyến đi thăm chiến trường xưa của anh đã qua được bao nhiêu đường đất. Sao lại quay về? Chú Tam càng không hiểu. Thấy bác Cả bảo quay lại thì chú tạt vào bên đường:
- Sao thế anh?
- Mình rong chơi trong khi người ta vất vả từng giờ từng phút để giữ  gìn biên cương! Không nên, không nên…  
Tôi cứ nao nao nỗi nhớ về Thanh. Cho đến lúc này, hình ảnh Thanh vội vàng lên biên giới cho đúng ngày trả phép cứ day dứt trong tôi. Anh em chúng tôi dùng xe nhà đi chơi. Thành  phố và các vùng biển đảo, tôi và Tam đã đi nhiều rồi. Chuyến này, tiếng là đưa anh Cả đi thăm chiến trường xưa nhưng trong lòng tôi vẫn nghĩ lên rừng cho lạ cho mới, vậy thôi.
Thật may, chúng tôi đã đỡ Thanh được một quãng đường!
                                                                                          Hà Nội     - 20/10/2012

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Chị tôi



Chị Hoa- chị cả tôi lấy chồng từ năm mười bảy. Anh rể gần gấp đôi tuổi chị, tôi can nhưng chị bảo chị rất yêu anh, cứ lấy! Ngày ấy, trong số chúng bạn cùng lứa với chị, người dám nói lấy chồng vì tình yêu có lẽ chỉ có chị tôi.
          Chị không thuộc lớp mặc váy nhuộm răng đen như mẹ nhưng quanh năm chỉ quần phin, áo nâu non với chiếc khăn mỏ quạ. Chiếc khăn ấy là một vuông vải chéo go màu đen, mạng riềm cũng màu đen, ngày bố đi dân công Thượng Lào về làm quà cho chị. Đó là vật bất ly thân, trời nắng trời rét chị đều trùm khăn kín đầu kín mặt, lúc thảnh thơi chị thả trên vai. Còn cái áo bông chần hình quả trám, ngày đại hàn chị mới khoác, những chỗ sờn rách ở vạt chị mạng lại bằng chỉ đen, không nhìn kỹ không nhận ra miếng vá.
          Năm giải phóng Điện Biên, bọn con trai chúng tôi bơi qua sông chạy ra quốc lộ để được ngửi mùi ôtô bộ đội chạy qua. Chị không biết bơi nên chỉ mong cơm tối xong mọi người tập trung ở sân đình múa hát. Tối nào dân làng cũng tập trung văn nghệ, rập rình từng đôi nam nữ không kể trẻ già đứng đối diện nhau quây vòng nhẩy múa:
          Yêu hoà bình tổ quốc chúng ta
          Yêu ruộng đồng quê hương ngàn đời
          Toàn dân đoàn kết bước hiên ngang rộn vang câu ca...
Thi múa sạp, chi đội thiếu nhi xóm Bắc của chị dám thách thức với những xóm toàn bọn con trai làm đội trưởng xem ai giành giải nhất. Anh rể chiều chị bằng cách lựa những cây tre thật thẳng làm sào rồi vê đàn Mandôlin rất giòn. Bọn lau nhau chúng tôi cũng được anh dạy thổi sáo sòn sòn sòn đô sòn... Tiếng đàn tiếng sáo cùng tiếng hát quyện trong làn gió lanh tanh trên những ngọn dừa.
Thời gian cứ trôi, tôi lên cấp hai rồi cấp Ba học trường huyện được cả anh và chị chăm lo rất đầy đủ. Cho đến trước chiến tranh phá hoại, anh chị tôi đã có hai cậu con trai. Ngày tôi nhập ngũ, anh rể đi trực chiến máy bay, chị phàn nàn anh lớn tuổi chả ai cho đi bộ đội. Xem ra, chị có vẻ tủi thân trước cảnh cả nước nhộn nhịp ra trận mà chồng mình cứ phải luẩn quẩn với trận địa mười hai ly bẩy trên núi sau nhà.


                                                *
                                                *    *


Tôi vào bộ đội có văn hoá cấp Ba lại viết chữ đẹp nên được điều lên làm ở Tiểu ban Quân lực. Dạo ấy Trung đoàn hoạt động tại vùng Sầm Nưa, công việc của tôi là thực hiện chính sách nên thường về nước. Khi thì báo tử liệt sỹ, lúc nhận mấy ông đào ngũ, cũng có lần về lấy thêm quân bổ sung cho số quân chuyển chiến trường. Cuối năm Sáu Bẩy tôi được về tranh thủ. Lần ấy tôi cuốc bộ hai mươi cây số trong đêm từ trạm giao liên, tảng sáng về đến nhà. Thầy mẹ tôi mừng không kể xiết, cậu em trai tôi chạy ngay xuống chị báo tin. Một lúc sau chị tôi khệ nệ bụng chửa, tay bế thằng lên ba, tay dắt thằng lên năm, đến đầu ngõ đã ơi ới:
- Cậu ơi! Cậu có gặp bố các cháu không?
Tôi nói với chị chiến trường mênh mông gặp được người làng khó lắm:
- Với lại em chưa được vào Nam, chị ạ
Chị tôi khóc, chị tôi cười, chị tôi quát hai thằng con đang tranh nhau phần hơn mấy cái kẹo. Trông cảnh chị hai đứa con thơ, bụng chửa vượt mặt, tôi ái ngại nhưng chị bảo cậu đừng lo. Ở nhà đã có ông bà với các dì các cậu và cả một phong trào “Ba đảm đang”, cậu cứ hoàn thành tốt nhiệm vụ ngoài mặt trận là chị khoẻ.
Tôi biết có nói những lời an ủi cũng vô ích, không khéo còn làm chị phật lòng. Chưa hết tuổi thiếu nhi chị đã kín đáo hẹn hò, anh rể mới là người chờ đợi. Đến khi thưa chuyện lại bị thầy mẹ ngần ngừ, chị năn nỉ tôi:
- Cậu đã không cản ngăn chị nữa thì nhờ cậu nói đỡ một câu cho anh chị được xây dựng với nhau. Sau này sướng khổ thế nào chị cũng không nửa lời kêu ca.
Lời hứa ấy chị đã không quên. Chị tôi là tuýp người luôn gắng gỏi cho chồng được bằng mày bằng mặt với người ta, âu đó cũng là đức tính chung của những người phụ nữ thời kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong sống chết khó lường, chị nào cũng mượn câu ca mà đi suốt dọc dài đất nước tôi vẫn nghe Nhà tan cửa nát cũng ừ, đánh quân giặc Mỹ cực chừ sướng sau để động viên nhau.
Chị tôi khoe sau khi có lệnh động viên cục bộ, anh rể được nhập ngũ ngay. Sự lăn tăn vì chồng mình không được xông pha nơi tuyến đầu và sự mặc cảm với câu nói của ông Đội trưởng “Hậu phương phải gắng để bọn trẻ ngoài mặt trận yên tâm đánh thắng”, nay đã được gỡ bỏ.
Ba hồi kẻng gióng lên, thày tôi bảo:
- Con mẹ cò để hai cháu đấy tí nữa ông gửi trẻ cho, vào ăn với cậu nó củ khoai rồi đi làm.
Mọi người tập trung nghe Đội trưởng giao việc. Chị tôi tưng tửng:
- Cậu Trưởng được về tranh thủ, chiều đã phải đi rồi. Ông Đội không cho tôi cũng cứ ở nhà chơi, rồi ông muốn phạt mấy công thì phạt.
Thế mà chị được nghỉ cả ngày hôm đó không bị phạt, chỉ bị thày tôi mắng sắp ba mặt con rồi mà không chịu sửa cái thói táo tợn.
Chiều tối, chị tôi nhờ một bác trong làng có cái xe Vĩnh cửu lai tôi đi. Trông cái xe trần trụi, tôi ngại nhưng bác ấy bảo ăn nhau ở đôi bánh với ba cái ổ chứ chuông phanh cần gì! Chị chả để ý cứ luôn mồm dặn tôi đến nơi phải viết thư về ngay, nếu gặp anh rể thì nói ở nhà ai cũng khoẻ, các cháu đi nhà trẻ rất ngoan. Chị vừa nói với bác xe lai “Có khi bác ngồi sau ôm ba lô cho cậu ấy lai” thì đã quay sang tôi “Bác ấy mắt kém, nếu muộn quá phải cho bác ấy về rồi cậu chịu khó đi bộ tiếp”... Tôi cứ nghĩ nếu chị tôi đi bộ đội làm Trưởng Tiểu ban Quân lực chắc chẳng thua gì anh Trưởng Tiểu ban tôi vẫn gọi là thủ trưởng.
Năm Sáu tám tôi lại được về tranh thủ, lần này được nhiều ngày hơn vì trung đoàn sẽ hành quân vào chiến trường B nhận nhiệm vụ mới. Tôi thấy chị gầy rộc vì xã mới báo tử một người đi cùng đợt với anh rể và phong thanh có tin anh rể cũng đã hy sinh. Chẳng biết thật giả thế nào nhưng chị không ăn không ngủ được. Sau khi anh đi được mấy tháng thì chị tôi sinh cháu gái, niềm vui có nếp có tẻ chỉ được bảy ngày. Mất cháu, chị lo ngày anh về không biết nói với anh thế nào nên người cứ rạc ra. Tôi biếu hộp sữa Liên xô và cân đường hoa dâu nhưng chị đem lên nhà bảo chia phần. Thày tôi gắt, chị vẫn khăng khăng “Quà của cậu phải có phần cho thầy mẹ”.
Thày tôi đục hộp sữa pha cho mỗi người một bát. Hai thằng con chị chỉ mấy cái ực đã hết, sữa dính trắng quanh mồm dính cả vào chóp mũi cứ thè lưỡi lên liếm. Chị đang sì soạp liền sẻ nốt bát mình cho hai đứa rồi ôm chúng nó, nựng:
- Khổ thân con tôi, từ ngày lọt lòng có biết sữa bò là cái gì. Bao giờ hoà bình bố vể mua cho đầy...
Đang nói đang cười, chị tôi bỗng lặng đi. Cả nhà tôi ai cũng biết vì sao chị buồn nhưng chẳng biết an ủi thế nào.
Chị xin thầy mẹ cho tôi ăn cơm với các cháu rồi mẹ con líu ríu ra về. Tôi vừa bảo “Hai đứa đi đây cậu cõng nào” thằng anh đã tót lên lưng còn thằng em đánh đu trước ngực.
- Hai đứa không được bắt mẹ cõng như thế này, nghe chưa? Phải thật ngoan để mẹ vui nhé!
Hai anh em, thằng anh chưa nói sõi còn thằng em đang ngọng líu, tranh nhau khoe:
- Cô giáo bảo ngoan sẽ được lên núi bắn máy bay cơ!
- Bố cháu dặn đứa nào ngoan sẽ được thưởng khẩu súng làm bằng ống pháo sáng cơ!
Tôi hỏi, chị bảo có lá thư viết đã sáu tháng rồi mới đến nhà, trong thư đề là Bình dương.
- Bình Dương ở đâu hở cậu?
- Em chưa được vào nên không rõ lắm nhưng nhìn trên bản đồ thì Bình Dương còn ở phía trong Tây nguyên. Thế là anh đã vào gần đến Sài gòn rồi!
- Thế cơ à, thảo nào thư đi mất những sáu tháng. Người ta đồn anh hy sinh, chị lo lắm. Ngoài này chỉ có máy bay mà đã gớm, trong ấy thì đủ loại giặc trên trời dưới đất. Mà càng gần nơi đầu sỏ chúng càng ác độc phải không cậu?
Tôi đã được chị cho bài học về dã tâm của quân thù chứ đi bộ đội ba năm chỉ mới được bắn bia rồi toàn là “phóng văn lình”. Nếu có ai hỏi rằng anh giỏi cái gì nhất thì tôi đành phải trả lời là giỏi cuốc bộ về tranh thủ. Vì thế nên tôi rất ngượng. Anh rể đi sau đã vào đến Bình dương, còn tôi, theo các tham mưu con ở Trung đoàn bộ, bây giờ mới chuẩn bị vào B3.
- Tranh thủ đợt này rồi chưa biết đến bao giờ em mới được về. Chúng em chuẩn bị đi B...
- Thế chị tưởng cậu cũng đã đi... cái gì rồi cơ mà?
- Đi C, tức là chiến trường Lào...
Lộ bí mật quân sự là kỷ luật nặng của quân đội nhưng vì quá thương chị, tôi đã lỡ mồm.
- Anh đã vào gần đến Sài gòn rồi, em mà chậm chỉ còn mỗi việc đi giải tù binh!
Chị tôi cười.
Trời đã nhá nhem. Chị sai tôi ra vườn hái rau chua me và mấy quả khế còn chị kỳ cạch giã cua nấu riêu là món từ ngày đi bộ đội tôi chưa được ăn. Mới qua tuổi hai mươi, thấy chị ốm thì thương, thấy chị lọ mọ làm món ăn mình ưa thích thì cảm động chứ tôi chưa biết làm công tác tư tưởng thế nào với người chị gái hậu phương trong những ngày khốc liệt ấy.

                                               *
                                            *    *


Tôi không đi B mà tập trung ôn văn hoá để thi vào Trường Đại học Kỹ thuật quân sự. Những anh em được tựu trường mừng lắm. Về thủ đô học đại học thì thời nào chả là mong ước của tuổi trẻ. Riêng tôi lại có cảm giác rất khó tả, sung sướng đến nghẹn ngào vì chưa bao giờ được đến Hà nội nhưng vẫn ngường ngượng vì sức dài vai rộng lại lủi vào hậu phương. Năm ấy anh rể đã ngoài bốn mươi tuổi.
Học ôn đối với tôi là công việc nhẹ nhàng. Đang gian khổ ác liệt bây giờ về vùng núi Sơn Tây yên tĩnh học lại những bài toán lý hoá cấp ba, tôi có thừa thời gian xem trước tài liệu, lên lớp nghe giáo viên giảng chỉ là bước củng cố kiến thức. Trong số chúng tôi có những người học khá vất vả, tôi được giao kèm một nhóm mà cứ cố coi đấy như tổ chiến đấu ngoài chiến trường. Tuổi trẻ hay đua, chúng tôi lấy điểm học tập để tính chiến công, cao nhất điểm năm là diệt gọn, điểm bốn là bắn bị thương... bây giờ nghĩ lại còn thấy buồn cười nhưng ngày ấy tôi thi đua bằng tình cảm thật sự với người anh rể mà mỗi khi nhớ đến, hình ảnh anh chỉ lướt qua còn hình ảnh của chị lại không rời tâm trí tôi được.
Thi đỗ rồi tôi được nghỉ phép hai tuần. Thế là dự định lợp lại mái nhà cho chị đã có cơ thực hiện.
Thời kỳ này Ních xơn ngừng ném bom từ vĩ tuyến hai mươi trở ra nên tàu hoả chỉ về đến Bắc Hàm rồng. Tôi cuốc bộ gần bốn chục cây số, định bụng chỉ ghé dặn chị một câu nhưng vừa khoác ba lô vào đến sân chị tôi đã oà khóc. Trông chị nhếch nhác, xanh xao nhưng hỏi vì sao chị không nói. Mãi lúc sau hai thằng cháu chạy về tranh nhau khoe:
- Bố cháu hy sinh rồi, hôm làm lễ báo tử đông lắm!
Ôi! Những đứa cháu ngây thơ của cậu. Chắc các cháu chưa biết hy sinh và báo tử là từ ngữ chỉ dành riêng cho người đã chết. Tôi ngẩn cả người, mãi đến lúc nghe tiếng chị lào thào "Cậu cứ bảo hai cháu hy sinh là lập công rất lớn" tôi mới bừng tỉnh và ôm chầm lấy người chị gái kính yêu. Dòng nước mắt không thể nén ghìm cùng hai tiếng con ơi của chị làm hai đứa cháu tôi tròn xoe ngơ ngác. Tội nghiệp, các cháu vẫn đợi ngày bố về sẽ được thưởng khẩu súng làm bằng ống pháo sáng!
Buổi tối nhà tôi rất đông. Mẹ giải chiếu ra sân, dưới ánh trăng mọi người thăm hỏi tôi như một người lính ngoài mặt trận trở về. Tôi thật thà kể vừa thi vào Trường Đại học nhưng không ai để ý. Với họ, đã là anh bộ đội thì làm nhiệm vụ nào cũng nhằm mục tiêu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Ông Đội trưởng chỉ căn hầm và yêu cầu ai hút thuốc phải vào đấy để đề phòng máy bay. Mỹ ngừng ném bom nhưng vẫn do thám, thỉnh thoảng lại có chiếc phản lực ào qua bắn hàng loạt đèn manhê chụp ảnh, tiếng nổ chát chúa để lại tiếng rền rất khó chịu.
- Cứ phải cảnh giác. Ních xơn xảo quyệt lắm, mình chủ quan chúng đến bất ngờ trở tay không kịp. Mai ta làm buổi tối. Trăng sáng thế này, rỡ ra lợp lại vài tiếng là xong. Cần độ chục người lên mái mà mới có ba ông, ai xung phong...
- Chị em tôi lên tuốt!
Lại là tiếng chị tôi. Ông Đội trưởng chẳng lạ, có việc gì của nam giới mà chị em không làm được.
- Nhưng mà cô phải ở dưới để ai cần gì còn hỏi chứ. Trên mái gọi ới gọi ời/ Cái mè cái lạt dưới thời có ngay... Ông già vui tính đọc vè.
- Mai có được thắp đèn không ông Đội?
- Không, tuyệt đối không...
- Nhưng có tí trăng các ông các bà dạng ra che hết rồi dưới mò thế nào?
- Mặc kệ các bà, trên thông báo không được để lọt ánh sáng lên trời, các bà muốn làm sao thì làm!
- Mai ta đến sớm xếp mỗi thứ một chỗ đến lúc lợp cứ nhớ chỗ là được.
Mấy bà  thôi cười, bàn nhau. Ông Đội trưởng nhắc lại:
- Mai các ông các bà nghe kẻng thì thì tập trung tại nhà cô Hoa, ai đến muộn trừ công gấp đôi đấy. Chúng ta ở nhà không lo trước để đồng chí bộ đội về nhắc nhở, khuyết điểm quá...
Tôi đỏ chín cả mặt. Cả làng chỉ có mình tôi hay về tranh thủ, lần này lại còn trình giấy xin ký tên đóng dấu. Cảm giác làm điều chưa phải cứ luẩn quẩn trong đầu.


                                      *
                                      *    *

Chị tâm sự, giá chưa vướng bận hai cháu chị sẽ xin đi bộ đội hoặc thanh niên xung phong, nhưng đợt này chị sẽ gửi cháu cho ông bà lên núi vào trung đội mười hai ly bảy, trực chiến chuyên nghiệp. Tôi đọc lá thư mới nhận và tin chị sẽ làm như vậy. Tính cách chị tôi, tôi quá rõ. Thù chồng phải trả bằng những làn đạn thẳng căng vào đầu bọn giặc nhà trời. Năm ấy chị tôi hai mươi lăm tuổi. Hai mươi lăm tuổi phơi phới sức xuân đã mang tang chồng và mối thù chung của đất nước. Chị nguyền, đời chị trả không xong sẽ có đời hai con chị nối tiếp. Viết cho tôi, lời nguyền ấy chị nhắc đi nhắc lại nhiều lần.
Năm Bẩy mươi chị tôi đi dân công hoả tuyến phục vụ chiến đấu ở Quảng bình, gần hết hạn chị chuyển qua thanh niên xung phong vào đến Quảng Đà rồi cậy cục thế nào được vào bộ đội. Nhưng cuộc phiêu liêu của chị cũng chỉ đến được vùng đất ấy. Sau ngày giải phóng, chị về nhà còn tiếc không vào được Bình dương.
Biên giới Tây Nam bị bọn Pôn Pốt đánh phá rất dã man. Tôi là sĩ quan trẻ lại có trình độ kỹ thuật phù hợp với một nhiệm vụ mà cấp trên yêu cầu phải làm đơn tình nguyện. Trước khi đi, tôi được tranh thủ về thăm gia đình. Đấy là tháng hòa bình đầu tiên, tôi không gặp chị vì chị chưa được về. Suốt mấy năm ở biên giới, tôi luôn mong được gặp chị. Trong một đợt trinh sát chúng tôi bị phục kích...
Ngày chị lên đón tôi ở trại thương binh, chị ôm tôi mà khóc như ngày còn bé. Thày mẹ đã về với tổ tiên, các em tôi đứa nào cũng đã có phận riêng đứa ấy, chị xin nhà nước được làm người phục vụ đứa em trai bốn chi nay còn một. Tôi sống cùng ba mẹ con chị nhưng hai cháu lần lượt lớn lên đi học rồi thoát ly đi công tác xa. Chỉ còn tôi với chị, nhà vắng hoe vắng hoắt, chị đẩy xe lăn đưa tôi đến nhà các em cho tôi khuây khỏa. Cô em út thắp hương vừa khóc vừa khấn:
- Xin thày mẹ phù hộ cho chị Cả luôn được mạnh khoẻ để nuôi anh Trưởng.
Đến khi thằng con lớn của chị có gia đình, nhà thêm đứa cháu dâu rồi thêm đứa cháu nội, tôi quyết định quay về trại. Chị đã hết phải sống một mình và tôi cũng muốn tránh những câu hỏi ngây thơ của đứa cháu nhỏ.
Tất cả các em tôi nghe theo lời chị cất ngôi nhà trên thổ đất của thày mẹ để chị lên trại lần thứ hai xin đón tôi về:
- Để cậu cho ai chị cũng không yên tâm!
Chị tâm sự với tôi như vậy.
Phận goá còn trẻ mấy ai được yên, chị tôi cũng vậy. Nhưng ai đến với  chị, chị cũng trả lời con tôi còn nhỏ dại, khi các cháu đã thoát ly chị lại nói không nỡ để cậu Trưởng chịu khổ một mình. Hình như chị quên và tôi cũng không nhớ, tôi với chị là hai chị em liền kề ngày xưa mẹ sinh năm một. Hay chị vẫn nhầm tôi với thằng bé ngày máy bay Pháp ném bom, chị sợ qúa đã nằm đè lên che chắn. Mà tôi lọt thỏm trong chiếc xe lăn cũng có khác gì đứa bé, một đứa bé thiếu hai chân và một tay có râu tóc màu bạch kim.
Khi các cháu tổ chức mừng thọ chị sáu mươi, anh cháu lớn "quán triệt" cho vợ cậu em trai trong Nam mới về “Muốn mẹ vui lòng thì cứ hỏi ý cậu. Mẹ kính trọng cậu như kính trọng ông bà ngoại, thím chú ý kẻo mẹ phật ý”. Con cháu dâu này sinh trưởng trong một gia đình khuôn phép nên cứ y chang lời anh chồng. Tôi tưởng nó lạ nước lạ cái nên cái gì cũng hỏi nhưng không, tất cả các em các cháu tôi đều làm như vậy. Được coi trọng mà lòng tôi đầy vị đắng. Nếu anh rể còn sống và tôi không thương tật nặng thế này, các em các cháu tôi đâu phải gò gẫm đến vậy. Hy sinh, mất mát vì nghĩa lớn được cả dân tộc đáp đền nhưng sao trong lòng tôi cứ nê nể, đau đau, âm i, buồn bực.
Đêm ấy, tôi thức trắng với trang giấy. Tôi nợ chị tôi nhiều quá. Tôi còn tai còn mắt còn một cánh tay và trái tim còn đập, tôi còn được hạnh phúc hơn anh rể rất nhiều. Lòng tôi xao xác, mưng mưng, tôi chỉ muốn bật lên thành tiếng liệu có còn thương hay chỉ phế, hở trời.
                                                 
                                                  *
                                               *    *

Năm sáu mươi hai tuổi, chị tôi và hai anh con trai vào Bình dương tìm hài cốt anh rể. Không dám để tôi ở nhà, chị quyết định đem theo. Được thăm lại chiến trường xưa là ao ước bấy nay nên tôi vui vẻ lên đường.
Nhưng, lúc đi đã không xe nào muốn chở người ngồi xe lăn, lúc về thêm va li hài cốt, đón được một cái xe khách sao mà khó thế. Mấy lần lơ xe nhảy xuống chào mời đon đả nhưng ngửi thấy mùi nước hoa lẫn mùi hương rồi đến khi nhìn thấy cái va li, cậu nào cũng ngao ngán lắc đầu. Bốn chị em cậu cháu lại phải mang anh rể vào bến nhưng nhà xe từ chối. “Không có xe chuyên dụng”, câu trả lời khô như những mảnh ngói vỡ. Chị tôi cố trình bày em trai là thương binh nặng thì được câu trả lời của người phụ trách “Bến xe không phải cơ quan chính sách cũng không có nhu cầu làm từ thiện, người què cụt chỉ vì tham tí thuốc nổ mà tháo bom tháo đạn dính cũng nhiều, cái thẻ thương binh này biết thật hay giả”. Tôi chỉ muốn gầm lên. Khốn nạn, người đàn bà quê mùa một thời mặc áo lính đã bươn bả mấy chiến trường là chị tôi đây đang bị nghi là kẻ gian! Mảnh đất nơi anh rể tôi để lại tính mạng bây giờ san sát nhà tầng, có còn ai mở lòng đưa anh về quê với chị tôi và các cháu?
Tại Ban Quản trang - chúng tôi phải trở lại cái nơi tình nghĩa đã giúp mẹ con chị thoát bao thủ tục nhùng nhằng - chị tôi hết lời xin anh em đã thương thì thương cho trót. Một anh bỗ bã “Cái khó là chỗ ông bác đây! Nói bác bỏ quá, mình giờ như quả bí, mọi chao lắc đường dài trông cậy một tay, lỡ có sự gì lái xe nó ngại lắm. Đã đành là tiền rồi, nhưng...”. Tôi không nỡ trách câu phũ phàng từ miệng người đồng đội chân thật, chỉ vận tâm giữ cho tiền đình không bị rối loạn. Chị tôi chất phác mở cái túi lấy bọc tiền:
- Trăm sự nhờ các bác, bao nhiêu tôi cũng sẵn sàng. Chả giấu gì, tất cả tiền phụ cấp vợ liệt sĩ, phụ cấp nuôi dưỡng cậu cháu hai năm nay tôi vẫn gói trọn đây. Sang năm tuổi sáu ba lỡ có sự gì, gặp bố các cháu tôi biết nói thế nào...
Rồi cũng thuê được một cái xe với giá khoảng ba năm cấy lúa của chị tôi nhưng đi chưa được trăm cây số tôi đã bị sốt. Mấy chỗ cắt cụt tấy đỏ rỉ nước vàng nhức buốt. Chị trao chiếc va li cho con, ôm tôi vào lòng, cố nhận hết mọi dằn xóc. Lái xe chia sẻ bằng cách chạy nhanh hơn “Cho bác chóng về nhà”. Chị tôi van:
- Chú xem có chỗ nào cấp cứu chứ cứ chạy mãi thế này em tôi chết mất...
Lời qua tiếng lại, cuối cùng chị phải chịu thêm tiền nửa ca xe để đưa tôi vào một trung tâm y tế ven đường. Mấy người mặc áo bờ lu vừa lôi băng ca vừa đay “Người ngợm thế này mà cũng học đòi tình nghĩa...”. Đời hỡi đời, chị tôi chỉ mang tôi đi tìm hài cốt anh tôi chứ có đi làm tình nghĩa gì đâu! Đối mặt với sự vô cảm đến thế mà chị tôi lại trần xì mấy trăm “Gọi là để bồi dưỡng...”. Chắc chị đã khôn hơn hôm ở bến xe, chả dám nói em mình là thương binh nặng, chỉ lúng túng không biết mua phong bì ở đâu.

                                                *
                                                *    *

Về tới đầu làng, khi tôi đã yên vị trên xe lăn, thằng cháu lớn đã cẩn thận ôm cái vali hài cốt bố đứng nép vào mé đường, chị mới bới lại mái tóc bạc úa. Khuôn mặt chị giãn ra, một phút nhàn nhã của chị gợi cho tôi nhớ ngày thưa chuyện với bố mẹ chị đã khẳng định khó khăn nào cũng vượt qua. Cho đến lúc này chị tôi đã giữ trọn lời hứa ấy.
Các em ra đón, chúng xúm vào đẩy cái xe lăn có chiếc va li hài cốt đặt trên hai mỏm đùi còn lại của tôi ngược con đường ngày anh rể ra đi trong hương trầm ngào ngạt. Dòng người cứ dài thêm trên con đường bê tông, con đường ngày xưa nhão bùn và rộn ràng trống ếch.
Chị áp má vào trán tôi, thảng thốt “Cậu lại sốt đây này”. Nước mắt của chị lăn xuống mặt tôi, thấm theo những nếp nhăn nơi khoé mép tôi, mặn chát. Tôi vòng cánh tay còn lại ôm lên mái đầu già nua của chị. Tim tôi đập rất mạnh không thể cất nên lời. Chị Hoa ơi! Chưa bao giờ em thôi yêu kính chị. Em còn một cánh tay và một trái tim, khi nào trái tim em còn đập em còn viết những dòng thương quý người chị gái đã chở che em từ lúc tuổi thơ cho đến tận tuổi già. Chị có biết không, đã có lúc em định buông xuôi nhưng chị là cánh buồm là cơn gió đưa em qua những bến bờ...
Xin ngàn lần được gọi: chị Hoa ơi!

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Sinh năm 1951...



Người ta mải vươn ra mặt đường nên không ai để mắt tới vùng núi hoang vu này. Không ai để ý đến một con người lầm lũi cùng tiếng mìn lẫn vào các đợt nổ bên công trường đá. Bởi thế anh có dư thời gian để tri âm cùng đất. Và đất đã bừng lên. Lúa bao quanh đầm cá, bờ vùng bờ thửa của anh xanh mướt những loài cây trái. Bưởi Đoan Hùng, vải Thanh Hà, xoài Ấn Độ… Khe Cát chả bao lâu nữa sẽ thành một vùng trù phú.
Nhưng anh đã rụng rời chân tay khi nhận được giấy triệu tập về xã  “giải quyết một số việc”?!
Ngồi thừ người bên bếp lửa, anh đăm đắm nhìn vào ba hòn đá kê làm kiềng. Ngày mới đến đây, ba hòn đá ấy đã thấm hơi cơm vị muối khi anh móc mấy con cua rốc vốc mớ ốc nhồi rồi vơ nắm rau má nấu bữa ăn đầu tiên. Chúng là chứng tích của sự sống khởi nguồn, bây giờ là ông Công ông Táo nhà anh, vậy mà bao công sức của anh có nguy cơ mất trắng.
 Tại trụ sở Uỷ ban xã, chủ tịch Hoạt cười cười:
- Đất Khe Cát thuộc quy hoạch kinh tế trang trại!
Anh chưa kịp nói gì thì ông Hoạt đã nói thêm:
- Ông đã cư ngụ trái phép!
Tiếng nói gằn như một nhát búa tạ nện thẳng vào đỉnh đầu anh. Những mảng dĩ vãng cay đắng bắn toé ra trước mắt anh thành những đốm hoa vàng chói gắt.  
Cái đêm ấy… trăng giãi trên lối ngõ. Một bọn ồn ào theo vệt thóc rơi từ nhà kho tới sục sạo trong nhà, ngoài vườn, rất hung hăng nhưng nhà anh có bao giờ đóng cửa. Bao thóc tung toé trong gian nhà ngang là vật chứng không thể chối cãi. Chúng xông vào trói rồi giải anh lên Uỷ ban. Làng trên xóm dưới đỏ đèn kéo đến xem mặt “thằng ăn trộm”. Mọi việc xẩy đến nhanh như cướp, anh hoàn toàn bị bất ngờ. Anh cố chứng minh bao thóc trong nhà ngang và vệt thóc rơi là hiện trường giả, cam đoan sẽ tìm được kẻ vu oan giáng hoạ nhưng không ai chịu nghe. “Trộm nào chả liến láu kêu oan”. “Phải trị tiệt nọc nòi trộm cắp!”… Những tiếng láo nháo lào nhào của đám đông hiếu kì bủa vây anh. Hàng chục cái đèn pin dọi thẳng vào mặt anh như những quầng lửa nhoáng bầm của những khối nổ ngày anh còn mở đường trên đỉnh Apông. Sáng ra, dân quân dong anh đi dọn nhà xí với cái biển “Kẻ trộm” đeo trước ngực, anh giằng ra liền bị trói gô vào cột. Lâu nay ai mất con gà, củ khoai cứ nhè tên Tùng mà réo: “Giờ mới lòi mặt con cáo hai chân”. Không có cái kẽ mà chui cái mo mà đậy, anh rũ xuống như tử tù trước cái nơi đã từng trống dong cờ mở tiễn anh đi.
Sau một tuần khổ sai, anh được thả. Vừa lê chân đến đầu ngõ thì thằng con ông Đội vụt chắn lối. Nó câng mặt “Sao không thấy tấm huân chương nào trên ngực?!”. Lời mỉa mai cùng điệu cười ác độc làm anh khuỵu xuống. Anh cố lết vào nhà. Trên bàn thờ, tấm ảnh của vợ lấy từ thẻ quân nhân bạc phếch, hóp héo, lồng trong cái gương to hơn bàn tay với cái nhìn dỗi hờn, oán trách như đốt cháy ruột gan anh.
Nhà gặp nạn, mấy hôm nay mẹ anh không biết ăn bằng gì. Không còn lẻ gạo nấu cho mẹ già bát cháo, anh đánh liều ra đồng ngô. Đội tuần đồng xộc tới, vẫn giọng nói đã nghe hôm ở Ủy ban: “Ối! Lại là mày à Tùng?” làm anh đứng như trời  trồng.
Bò hay lết về nhà, chính anh cũng không nhớ. Sao mà chán sống đến thế này? Tâm trạng anh hoang tàn như bãi tha ma. Mong ước yên bình được đáp trả tàn nhẫn quá!
Vợ anh đi chưa qua thất tuần mà bọn chúng đã bày trò hại anh. Đau đớn hơn là chúng hại anh vào lúc tâm trí anh tồi tệ, sức khoẻ anh suy kiệt. Mẩu gang trong đầu cứ nhay nháy cựa quậy, đầu óc lúc mê lúc tỉnh. Khi mê chỉ thấy lửa cháy và khói đen ngùn ngụt, lúc tỉnh lại nghe tiếng khóc của bà mẹ già gần đất xa trời. Khuôn mặt trong như sáp của vợ kéo anh đổ rầm vào góc tường rồi bất động trên nền nhà. Máu ri rỉ hai lỗ mũi, mẹ anh đã cố im lặng nhưng rồi cũng phải kêu làng xóm đến cứu anh. Anh giật mình vùng dậy, hai con mắt đỏ nọc dừng lại ở cái ba lô lộn ngược treo trên tường.
Tiếng kêu cứu của mẹ lại hoá thành lời thúc anh trốn chạy. Vụ bẻ trộm ngô đã hoàn toàn bít mọi lối gỡ cái oan phá kho trộm thóc. Tình thế đẩy anh đến đường cùng, anh là thằng trộm mười mươi còn dám nhìn ai, dám mở mồm kêu oan với ai!
Mọi người nghĩ ngay đến cảnh những anh bộ đội ba lô lộn ngược nhảy tàu Bắc Nam nên chia nhau đi tìm. Một tốp lần theo những ga tàu, một tốp săm soi bến xe khách nhưng đều không kết quả. Có tiếng ông hàng xóm hú lên: “Sao cái quần Tô Châu của anh Tùng lại vứt bên bờ rào nhà tôi?!”. Mọi người xô tới, lối rào xé vội, đôi dép tông chỏng chơ dưới ruộng. Theo vết chân, mọi người lần theo đến dải đầm hoang. Lau sậy um tùm. Mặt đầm dày đặc rong đuôi chó bị dạt ra một khoảng đen ghê lạnh. Nước đầm sâu và nhiều đỉa quá, đám đông tản dần.
Mọi người đinh ninh là anh đã chết chìm dưới làn nước đầm hoang. Nhưng không… Leo đến đỉnh đồi thì anh hoàn toàn kiệt sức, một cú trượt chân kéo anh lăn xuống tận dòng suối dưới chân đồi. Rất may, thân anh chìm dưới nước nhưng đầu còn ghé trên bãi cuội. Tiếng u u vần vũ của muỗi mòng giúp anh tỉnh lại. Những con muỗi căng máu vỡ nhoè, tanh nồng, rờn rợn. Anh đưa cả tay kia lên vỗ nhưng bị vướng. Đấy là dây buộc miệng của cái ba lô tong teo, sủng ướt, không hiểu vì sao nó lại bên mình. Ôm cái vật thân thiết ấy vào lòng, nước mắt anh ứa ra. Cảm giác ham sống vừa nâng vực tâm trạng được một chút lại trầm xuống theo ý nghĩ muốn đi theo bàn tay vẫy vẫy lẩn quất mơ hồ của người vợ đã chết.
Trong chiếc ba lô lộn ngược có một bánh thuốc nổ TNT, một khoanh dây cháy chậm, mấy cái kíp và con dao chuyên dùng của thợ mìn. Đấy là các thứ anh đem về khi ra quân, định bụng đêm giao thừa năm ấy sẽ tạo một tiếng nổ thật to để thông báo với đất trời rằng thằng Tùng còn gáo. Nhưng địa phương cấm ngặt, anh đã quên khuấy. Hôm nay bên bờ con khe trên đường chạy trốn, không định mà những vật thân quen ấy lại bên mình.
Núi rừng tĩnh lặng, anh nằm yên nghe tiếng suối reo. Hoà bình chưa bao lâu, hào quang chiến thắng tưởng như rực rỡ đến cả bờ khoai, cụm mía. Thế mà...
Những ngày đối mặt với mưa rừng thác lũ trên dãy Trường Sơn, ai cũng một mực “đấu tranh đến cùng thì thôi”. Có lẽ do quá quen với nếp sống ấy mà anh đã ngộ nhận, sự ngộ nhận ai cũng như mình. Chính vì sự ngộ nhận này mà anh không lường hết tâm địa của cha con ông Đội. Khi mất ăn cha con họ chỉ cay cú nhưng trước nguy cơ mất quyền lực thì sự cay cú sẽ biến thành mưu ma. Cái mưu ma chúng dành cho anh độc quá. Lâu nay anh chỉ được dạy cách tự hào chứ đã có ai dạy anh cách chịu nhục! Mảnh bom bằng nửa hạt tấm chắc đã chui hẳn qua hộp sọ hay sao mà nó đang chém đang lia trong não. Làm sao để được minh oan? Câu hỏi như thỏi sắt nung, chạm vào nó là đầu óc anh thon thót bức bối, tâm trạng rối bời, căng nhức. Sức lực của anh chỉ còn đủ để ý thức về nỗi nhục hiện hữu. Cảm thức về tương lai mịt mờ đang tiếp thêm cho những cơn đau xé trời liên tiếp quật anh. Tay ôm đầu, chân đạp cuội, trong khu rừng hoang vắng chỉ có dòng nước vỗ về anh. Khi cơn đau hơi dịu thì ham muốn được đi với người bạn đời đã khuất lại trỗi lên. Ham muốn ấy cứ lớn dần, lớn dần, có lúc đôi mắt đầy hoa cà hoa cải của anh còn nhìn thấy cả nụ cười của vợ như gọi như mời, như thúc giục…Ý nghĩ được chết bằng một quả bom loé lên như tia chớp đã lập tức huy động tất cả năng lực còn lại  nâng anh ngồi ngay ngắn. Bày các vật liệu nổ lên bãi cuội, anh cười méo xệch và bần thần thao tác quả mìn.
Một tay cầm dây cháy chậm giơ cao, anh hướng về quê: “Mẹ ơi! Tha lỗi cho con!”
Sau tiếng gào lạc giọng, anh cúi đầu như ngày nào cúi đầu vĩnh biệt những người bạn chết trên đỉnh Apông. Tiếng xuỳ của dây cháy chậm bén lửa đưa anh vào cõi hỗn mang… tiếng rú gào của gió, của đất trời cuộn xoáy mù mịt… bàn tay Mùa vẫy vẫy phía xa…
Nhưng sao muỗi mòng vẫn u u, chân tay mặt mũi vẫn buốt rát? Anh mở mắt, dây cháy chậm đã tắt từ bao giờ. Cánh tay ôm ba lô có khối nổ trước ngực thõng xuống. Hoá ra dây ướt không thể cháy tiếp. Anh cắn, anh day, thuốc dẫn cháy ngấm nước vón rơi lả tả. Bánh TNT bở mục, cái kíp số 8 cũng xanh gỉ đồng. Anh cười điên dại đập hòn cuội vào cái kíp đến bẹp dí mà không hề phát ra hiệu ứng gì.
Anh bải hoải bước theo dòng suối. Nước lanh tanh reo qua những hòn đá. Đầu óc anh chùng lại. Cảm giác cồn cào nhắc rằng đã mấy ngày nay anh không ăn. Cúi vục nước, bờ đất lở lạng nhào anh xuống đầm. Đánh hơi người, đỉa nhao đến như tên bắn, con to như đũa cả, con bé như lá hẹ, con nào cũng vàng xỉn, bám được vào người là cong thân hút lấy hút để. Anh cố trườn lên bờ. Đói, mệt và tuyệt vọng đến cùng cực nhưng anh vẫn còn cảm nhận được sự lạnh lẽo, cảm giác đó nhắc nhớ anh ở rừng phải có lửa.
Hơi ấm của đống lửa làm cho cơn đói càng dữ dằn hơn. Mắt loè nhoè thấy vật gì tròn tròn, di động. Hình như có tiếng lịch bịch từ những cục tròn tròn ấy phát ra. Anh túm lấy, giơ lên nhìn và láng máng nhớ đây là loài rùa núi có thể ăn được. Đưa con rùa lên gặm, móng chân rùa sắc nhọn cào móc vào môi vào má, anh lơ mơ ném con rùa vào đống lửa. Con rùa ngoe chân nguậy cổ tìm đường thoát nhưng đã bất lực, mùi thịt nướng lan toả làm nước dãi anh tứa xuống ngực. Anh xé, anh nhai, máu rùa nhễu ròng hai bên mép.
Chân tay đỡ run, mắt nhìn rõ dần, dòng suối trong veo nhảy nhót qua từng hòn đá. Mấy con cá nô đùa thỉnh thoảng lại toé lên trước cái thác con con. Trên bãi, những con rùa bị rơi xuống liên tục nhưng lại kiên nhẫn leo lên những hòn cuội. Chúng quyết đi tìm nước hay tìm bạn tình? Tình yêu cuộc sống từ loài vật đã lây sang anh, nhắc nhớ anh về bổn phận. Không, còn hơn bổn phận, đó là trách nhiệm là nghĩa vụ với mẹ già, với người vợ đáng thương. Một cái gì đó như là lòng tự trọng làm mặt anh nóng phừng, ta đâu thể trốn tránh cuộc đời bằng cái chết. Nếu mình chết thì ai nuôi mẹ, ai chăm sóc phần mộ cho Mùa?
Mùa của anh, cô gái công binh cùng đơn vị, ngày đầu nghe tiếng hoẵng tác ngoài suối Acho đã sợ run cầm cập. Nhưng những khuyên trăng nhảy nhót trên dòng vẫn cám dỗ cô. Mấy chàng lính tinh nghịch nghĩ ra một trò đùa, một tảng đá lăn xào qua mấy bụi mua rồi lao ùm xuống suối cùng với tiếng hét “Cọp Apông đấy!” đã làm Mùa quýnh quáng nhào vào lán đàn ông. Cô nhảy tót lên giường ôm cứng lấy Tùng mà run như giẽ. Khi trận cười như bão nổi của cánh lính giữa rừng tạm lắng, Mùa thẹn đến chín dừ mặt mũi. Và lúc Tùng đưa Mùa trở về lán con gái, Mùa lí nhí em với anh chắc có duyên trời định. Những tưởng hai người sẽ được hưởng hạnh phúc bên nhau đến trọn đời, vậy mà…
Người vợ yêu quí của anh đã phải gánh hoạ chỉ vì trời ban cho một giọng hát ấm trầm sâu lắng để hát những bài dân ca về một miền quê gian lao và thuỷ chung với bao thế hệ người ra trận. Cuộc thi hát của xã năm ấy, giọng hát của Mùa đoạt giải Nhất, cái giải mà trước đó người ta đã kháo nhau sẽ về tay vợ ông Đội. Kết quả ngoài dự đoán khiến vợ ông Đội cay mày đỏ mắt. Những câu thách thức, những lời mỉa mai khiến Mùa không thể im lặng mãi. Nhưng Mùa vừa cất lời “Chị không có quyền xúc phạm tôi” thì vợ Đội đã tru lên rồi túm tóc đẩy Mùa té ngửa vào hàng rào địa bi. Cái thai bị động, rồi sẩy, rồi băng huyết. Mùa đi…
Chuyện cũng chưa dừng ở đó. Trong những lần ra đồng, anh hay nheo mắt ước lượng đám này mấy sào, đám kia mấy thước, cho vui. Không ngờ mấy nhà bán tín bán nghi về các khoản thu nộp của ông Đội đã đòi đo lại ruộng. Anh em ông Đội bị phát hiện ăn gian diện tích nên cay cú. Thằng con ông Đội, cái thằng đã bắt chước bố uống mực tím rồi đi chiếu điện làm bệnh án dạ dày để trốn bộ đội, bây giờ có tí quyền lực trong tay rắp tâm trả thù.
 Giấc ngủ làm tâm trạng anh khá hơn. Phải tồn tại. Không sống được ở làng thì vào rừng. Dính viên đạn đầu tiên đã chịu chết là hèn. Anh tìm đường vượt sang thị trấn bên kia dẫy núi. Tóc dài cụp gáy, mặt xạm tái, hai hàm răng vàng ệch, đôi mắt lờ đờ, trên vai là những bao ốc, bao rùa và rắn nước, có khi là cả tổ ong bò vẽ còn nguyên. Dân phố thị hầu hết là người của mỏ đá, sẵn tiền thì mua, không tiền thì đổi. Đổi gạo muối dao cuốc… tất cả các thứ cần cho cuộc sống anh dần sắm đủ. Tiếng mìn ùng oàng của công trường đá đã cho anh một gợi ý. Anh đổi thuốc nổ của đám thợ mìn, những lượng nổ liên hoàn hình thành một đường khe. Lũ đầu mùa xói đường khe rộng dần thành con mương dẫn nước từ đầm xuống vùng trũng. Đất ven đầm đã ráo, cây cỏ vừa đốn chặt đã khô cong dưới gió Lào. Bát cơm gạo mới, mo nước giếng khơi đã giúp anh vượt qua nắng hun, mưa trút.
Ngày đầu tiên thả làn khói có hương vị cơm gạo vào núi rừng hoang vắng, anh bùi ngùi ngồi ngắm mảnh đất đã cưu mang anh. Rồi mùa mưa tới, căn lều dựng tạm bị nước ứ dềnh vây bốn phía. Cóc nhái chui rúc, chuột lích rích mái tranh, rắn lục khoanh tròn trên tấm mền đầu sạp… Hàng tháng trời anh chỉ ăn độc món củ chuối nấu với thịt rùa. Bụng réo cồn cào, anh thất thểu cầm dao lội nước đi tìm. Và anh đã tìm được mấy tổ kiến mang về gõ lấy bát trứng đem rang muối trộn với củ chuối rừng. Món nộm trứng kiến giúp anh tạm quên cảm giác nhớ ngũ cốc. Cứ thế, nơi mảnh đất hoang ấy, anh đã vượt qua những ngày khởi đầu cơ cực. Nó đúng là mảnh đất lành. Khe Cát! Một cái tên vụt hiện trong đầu anh.
- Ông chuẩn bị tinh thần để trả đất Khe Cát cho Nhà nước!
“Trả đất cho Nhà nước!”, câu nói như khối nặng ngàn cân đè ép lồng ngực anh. Đất của Nhà nước… Đất nào mà chả của dân của nước. Nhưng sao các ông không đòi ngay từ lúc tôi mới bập nhát cuốc đầu tiên vào miếng đất toàn đá là đá ấy?
- Chưa ai quên vì sao ông phải lên Khe Cát đâu!
Câu nói như một cú đấm bồi của ông Hoạt làm tay anh sõng sượt, hai đầu gối va nhau lục cục, mảnh gang trong đầu cùng hàng trăm thứ lam sơn chướng khí nhất tề bùng lên.
Những lời phân tích dai dẳng của ông Hoạt như sợi dây thít dần lấy anh. Đất của anh không vào định chế đền bù vì anh không có sổ đỏ, không đăng ký hộ khẩu, bao nhiêu năm nay không đóng thuế... Nói chung, những gì thuộc về pháp lý anh đều sai hết. Anh chưa biết mở lời thế nào thì ông Hoạt đã đổi giọng xưng hô ra chiều tình cảm:
- Những gì tôi nói nãy giờ là nói theo luật định. Nhưng xã cũng nhận thấy bác là người có công khai hoang Khe Cát nên quyết định ưu tiên cho bác theo chế độ chỉ định thầu. Bác chuẩn bị đóng tiền rồi tiếp tục sản xuất kinh doanh và nhớ sau này phải đóng góp với địa phương và nhà nước đấy!
Mới nghe những lời đó, anh đã rưng rưng cảm động. Nhưng khi biết phải đóng ngay một khoản bằng một phần ba giá sàn thì tai anh ù, mắt anh hoa. Vốn liếng của anh có vét váy cũng chỉ được một phần mười cái giá sàn đó.
- Sao? Bác không muốn chấp hành à?- Ông Hoạt xoáy cái nhìn vào anh rồi bất ngờ đanh giọng: - Luật pháp bất vị tình! Nếu bác không đóng tiền thì xã buộc phải cưỡng chế bác rời khỏi Khe Cát thôi.
Thập thững trở về Khe Cát, mồ hôi anh nhỏ trên con đường ngập đầy cỏ dại. Đời hỡi đời! Câu thán oán của mẹ ngày nhà gặp nạn cứ văng vẳng bên tai.
         

                                             *
                                          *    *                                          


Hạn cưỡng chế của xã đã đến gần vậy mà anh không ngó ngàng gì đến ruộng vườn. Bê về một tảng đá xanh vuông vức, anh đục. Tấm bia đá gồ ghề hằn dần lên những dòng chữ bi ai: Vũ Đông Tùng. Sinh ngày 13 tháng 2 năm 1951. Quê xã huyện tỉnh. Chết ngày tháng năm…
Núi rừng chuyển động, cây cối nghiêng ngả, lá vàng lá xanh bất lực theo gió cuốn. Mây đen vùn vụt ụp xuống cùng những tia chớp xé vụn thung lũng Khe Cát. Anh vẫn u mê với tác phẩm điêu khắc của mình. Tấm bia mộ chỉ thiếu mỗi ngày chết, anh để đấy đi làm việc khác. 
Lạnh lùng vác cuốc xẻng ra sân, anh lầm lụi đào một cái huyệt. Những nhát cuốc chạm đá toé lửa. Những xẻng đất hắt lên tơi tả. Mồ hôi anh chảy lạnh từ đầu xuống mặt, xuống cổ, xuống thắt lưng, rơi thon thót vào lòng cái huyệt vuông vức. Xong rồi. Giờ là lúc nối mìn. Một cân thuốc nổ đặt vào giữa khối đất mới vun lên cạnh miệng huyệt nối với mười mét dây cháy chậm. Anh sẽ châm lửa rồi ung dung xuống huyệt nằm. Mọi tính toán để quả mìn nổ đất sẽ ụp xuống kín huyệt thay người đắp mộ cho anh.
Ngày mai đội cưỡng chế sẽ lên Khe Cát.
Còn đêm nay thôi. Đêm nay anh sẽ hoàn tất tấm bia mộ.
Một tay cầm búa, một tay cầm đục. Con số 1 như cây thông hiên ngang giữa đất trời. Còn một con số nữa - con số ghi dấu ngày anh chết. Những nhát đục chí chát đều đều khảm vào đêm đông hoang lạnh. Cách cách cách cách…. Mất vợ mất con… Cách cách cách cách… Danh dự và nhân phẩm… Cách cách cách cách… Mồ hôi và máu… Cách cách cách cách… Tay trắng hoàn tay trắng… Con số 8 đã hiện hình như một chiếc còng khoá chặt vào con số 1 như cây thông đơn độc…Cách cách cách cách… Bụp!
 Một cảm hứng bất thần trỗi dậy khiến anh vung cao tay búa với những nhịp dập dồn. Nhát búa đã đập trúng ngón tay cái lơi ra trên bàn tay cầm đục. Một tia máu nóng bỏng phụt thẳng lên mặt anh trộn với mồ hôi cùng chảy chan hoà. Phút điếng hồn qua đi, anh giơ bàn tay với ngón tay nát bươm lên ngắm nhìn rồi bất thần ngửa cổ cười khi cơn mưa ụp xuống. Tiếng cười ha ha đập vào vách đá, dội thành từng chuỗi âm thanh đồng vọng.

                                                           *
                                                        *    *                          

Tiếng nổ đanh gọn trong buổi sáng tinh mơ chỉ khiến được những công nhân công trường đá càu nhàu chửi tay Tùng hâm phá giấc ngon của họ. Nhưng có một người đã giật mình:
- Mau lên, lão Tùng đang phá huỷ tài sản!
Đội cưỡng chế gồm năm người do Chủ tịch Hoạt chỉ huy phóng xe máy ào vào Khe Cát.
Sự thực không như lời ông Hoạt.
Sau một đêm thức trắng, anh đã móc quả mìn ra khỏi đống đất cạnh huyệt ốp vào tấm bia mới đục xong. Và anh châm lửa. Tiếng dây cháy chậm xuỳ một chuỗi bình thản dẫn vào khối thuốc. Đứng cách xa vài chục mét, anh chỉ thấy quầng lửa chói chang nhoá lên và tấm bia đá bay tung lên trời. 
Lạ kì thay, quả mìn được làm từ một cân thuốc nổ chỉ phá nát được phần dưới của tấm bia. Khi đội cưỡng chế vào tới nơi, anh vẫn đang ngồi ngắm nghía nửa tấm bia còn lại với hàng chữ: Vũ Đông Tùng, sinh năm 1951…